Tailieuonthi tổng hợp đề thi môn Ngữ Văn tốt nghiệp THPT 2025 cho các bạn học sinh tham khảo
Môn Ngữ văn vẫn thi theo hình thức tự luận, trong 120 phút. Song đề thi đã có thay đổi về phân bố điểm, cụ thể gồm 2 phần Đọc hiểu (4 điểm) và Viết (6 điểm).
Đáp án đề thi môn Toán tốt nghiệp THPT 2025
Đề thi tốt nghiệp THPT 2025 môn Ngữ Văn
Đề thi môn Ngữ Văn 2025 số 1 – Chương trình mới:
Hình ảnh đề thi


Nội dung đề số 1:
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản:
NHỮNG VÙNG TRỜI KHÁC NHAU
Tóm tắt bối cảnh: Lễ và Sơn là phi công trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Lần đầu gặp gỡ, Lễ không có thiện cảm với Sơn – một công tử Hà Nội trắng trẻo. Sau ba năm, những ấn tượng đầu tiên về Sơn đã thay đổi. Lễ và Sơn trở thành đôi bạn thân. Họ cùng về Nghệ An đóng quân cạnh làng của Lễ. Trong một trận chiến đấu, Sơn bị thương nặng phải vào Quân y viện. Khi Sơn trở lại đơn vị, anh được phân công tiếp tục ở lại Nghệ An. Sơn lẻ được điều động ra Hà Nội. Phần văn bản sau kể về cảnh hai người bạn chia tay để chuyển đến chiến đấu ở những vùng trời khác nhau.
Một đêm, Lễ và Sơn đứng bên nhau rất lâu trên cái gò đất xung quanh ¹ ấm tiếng sấm và tiếng nước lũ đổ về. Trước mặt hai người chỉ huy, những phi đội của đại đội pháo cũ gộp nhau trên mảnh đất miền Tây Quảng Bình đang từ biệt nhau. Đại đội pháo của họ như một gốc cây đã lớn, nhựa cây từ đây tỏa ra thành hai nhánh.
Đại đội của Lễ đã dán sơ phác sẵn sàng trên mặt đê theo đội hình hành quân.
Lễ ngẩng lên ngắm một lần cuối vùng trời quê hương mình, nói với Sơn: – Mấy hôm nay ngày nào chúng cũng cho máy bay trinh sát… – Cậu cứ yên tâm. Chúng mình sẽ bảo vệ cái đập nước và vùng trời quê hương của cậu bằng mọi giá… – Tớ rất tin… Tớ rất tin cậu!
Sau ba năm sống với nhau từ ngày hai người còn ngồi trên hai chiếc ghế sắt của một khẩu 37 cũ kỹ, lần này Lễ và Sơn mỗi người nhận một nhiệm vụ. Họ chia nhau tấm giát nằm, vài tấm áo sặc mùi thuốc đạn và chia nhau bầu trời Tổ quốc trên đầu. Tận trong những ý nghĩ sâu kín nhất của Lễ, ảnh đá coi Sơn như một đồng chí thân thiết nhất trong đội lính – “Đi nhé!”. Họ bắt tay nhau, từ biệt nhau chỉ có hai tiếng ấy.
Lễ bắt đầu một cuộc hành quân dài. Những thùng xe chất đầy đồ đạc. Bốn những nòng pháo chênh chếch chĩa lên trời tại bây ra trước mắt thiên hạ cả cuộc sống bình thường của một nhà lính. Hãy nhìn những người chiến sĩ cao xạ ngồi ngất ngưởng trên bên thành xe, có một trăm người lính thì có một trăm cuộc đời và vùng trời quê khác nhau. Họ đi qua cầu Sông, cầu Họ, Hàm Rồng và Nam Định, Phủ Lý để lại phía sau rất xa những đèo Ngang, Quán Hàu², Bãi Hà… Những vùng trời họ đã để lại một nửa tấm hồn ở đấy.
[…] Thế là hôm nay Lễ đã đứng dưới bầu trời Hà Nội, cạnh những người đồng đội mới và cũ. Trời gần sáng. Sau lưng Lễ, Thủ đô đầy tiếng động như một cái tổ ong vừa thức giấc. Lễ tựa lưng vào vách ô pháo và nhớ lại giấc mơ vừa qua³: Phải rồi, Sơn có ra ngoài này đâu? Sơn đang chiến đấu trong vùng trời quê hương của Lễ. Ngày nào hai người mới từ biệt nhau trên gò đất trận địa của đại đội Sơn, những ụ pháo ở đấy đáp bằng pháo sa súng Lam vẫn vang trời như thế, giữa một bãi sông trông toàn lau.Đặt phù sa sông Hồng truyền sang người Lễ một cảm giác mát lạnh – “Như thể là mình đã đúng ở đây – Lễ chợt nghĩ một cách thú vị – bên cạnh Hà Nội, cái thành phố Thủ đô mà Sơn từng thân thuộc từng gốc cây, từng mảnh tường và cả từng sắc mây trên nóc phố”.
(Nguyễn Minh Châu, Tuyển tập truyện ngắn hay nhất của Nguyễn Minh Châu, NXB Văn học, 2022, tr.33-35)
¹ Ngữ liệu nguyên ghi là Hầu. ² Giấc mơ Lễ gặp lại Sơn tại Hà Nội được nói đến ở phần đầu tác phẩm. ³ Ngữ liệu nguyên ghi là chuyển.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản.
Câu 2. Trong văn bản, quê hương của Lễ và quê hương của Sơn gắn với hai dòng sông nào?
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn sau: Đại đội pháo của họ như một gốc cây đã lớn, nhựa cây từ đây tỏa ra thành hai nhánh.
Câu 4. Nêu vai trò của chi tiết Họ chia nhau tấm giát nằm, vài tấm áo sặc mùi thuốc đạn và chia nhau bầu trời Tổ quốc trên đầu trong việc thể hiện nội dung văn bản.
Câu 5. Hai ngữ liệu sau đây có sự tương đồng nào về ý nghĩa?
Họ đi qua cầu Bùng, cầu Họ, Hàm Rồng và Nam Định, Phủ Lý, để lại phía sau rất xa những đèo Ngang, Quán Hàu, Bãi Hà… Những vùng trời họ đã để lại một nửa tấm hồn ở đấy. (Những vùng trời khác nhau – Nguyễn Minh Châu)
– Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn! (Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm) Anh/Chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích tình cảm của Lễ dành cho Sơn trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm) Từ kết quả đọc hiểu văn bản Những vùng trời khác nhau và những hiểu biết về bối cảnh đất nước đang có nhiều thay đổi lớn lao, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) với chủ đề: vùng trời quê hương nào cũng là bầu trời Tổ quốc.
———-HẾT———-
– Thí sinh không được sử dụng tài liệu. – Giám thị không giải thích gì thêm.
Đề thi môn Ngữ Văn TN THPT 2025 số 2 – Chương trình cũ:
Hình ảnh đề thi

Nội dung đề thi
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc văn bản:
NẾP NGHĨ
Một lời đi, một cách nhìn khác- Thật thà hơn những bầy bề bộn Cái mới nhiều khi ngoài tầm với. Cuộc sống đừng xa mệt mỏi tìm kiếm.
Cuộc sống những dòng chảy vô cùng, Anh với em một con người, cái nhìn cũng cũ Chúng ta giá trị ở trong biển tuổi lợi. Vô cảm cái bật tay, vô cảm nụ cười.
Chúng ta nói những lời to tát và cao ngạo Về thi ca, về sứ mệnh con người Chúng ta bỏ qua những vui buồn thường gặp Tìm những cái vô ảnh vô hồn trong vòng mũi khơi
Sao không đào sâu qua những quản đời Sao không sâu lại lớn những chán chán Những cái tái tâm, những gì chai sạn Hân trong từng nếp nghĩ bạn và tôi
(Nguyễn Đức Mậu, Tạp chí Nhà văn & cuộc sống, số 22, 09&10/2024, tr.79)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản. Câu 2. Theo văn bản, con người mệt mỏi tìm kiếm điều gì? Câu 3. Nêu tác dụng của phép điệp trong những dòng thơ sau: Sao không đào sâu qua những quản đời Sao không sâu lại lớn những chán chán Những cái tái tâm, những gì chai sạn Hân trong từng nếp nghĩ bạn và tôi
Câu 4. Những dòng thơ Chúng ta bỏ qua những vui buồn thường gặp/ Tìm những cái vô ảnh vô hồn trong vòng mũi khơi gợi cho anh/chị bài học gì về lẽ sống?
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về sự cần thiết phải làm mới chính mình của người trẻ trong bối cảnh hiện nay.
Câu 2. (5,0 điểm)
Trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, nhà văn Tô Hoài viết:
Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn, nếu không có bếp lửa thì cả Mị và cả A Sử cũng không đến lượt chết. Mỗi đêm, Mị và A Phủ phải lấy lửa họ, chứ không bao giờ biết được. Thường thì đã gãy gây sợ Mị ngồi dậy ra bếp sưởi một lúc thật lâu thì các chị em trong nhà mới bắt đầu dậy ra bếp mà không thể nào chạm vào. Chị phụ trách được dùng lửa. Mị lại thức uống của sương đêm. Mỗi đêm, khi ngủ nông ngoài nhà tôi lấy, A Phủ là một người. Ngọn lửa ướt bị lên lưng, còn lại Mị nằm yên nghỉ ngơi. Cả hai người. Mị thấy A Phủ trông trông như một con chó sắp chết đói. Mấy ngày như thế, Mị vẫn không nhận thấy đói, hơn thế nữa. A Phủ là cái xác chết đứng dậy, càng thế thôi. Mị vẫn trở dậy, văn sưởi, chỉ biết còn ở với ngọn lửa. Có đêm A Sử chạy về, thấy Mị ngủ dậy, A Sử đánh Mị ngã ngửa xuống cửa bếp. Nhưng đêm sau Mị vẫn ra sưởi như đêm trước. Mấy lúc như thế, A Phủ đã ngã ngửa, vì Mị đã ngã ngửa xuống. Lửa bếp bùng sáng lên. Mị lại mất trong sang, thấy hai người A Phủ cũng vừa mới, mắt đóng nước mắt lắp lánh bộ xương hai hồm mà đã xám đen lại. Nhìn thấy tinh cảnh như thế, Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc nước mắt xuôi xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được! Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết đứng thế này, nó bắt trói trên chiến người dân ba ngày trước cũng ở cái nhà này. Chẳng roật, một lúc ấy, Mị chợt nghĩ chạy đi tìm con trói chết, chết đói, chết rét… Phải chết thế này thì đàn bà, nó đã bắt trói mình mà nó còn bắt trói với bọn Việt đây ngày rủ xương ở đây thôi… Người kia việc gì mà phải chết thế… A Phủ… Mị phải phát nghĩ như vậy. Đêm than đã vạc Hán lửa. Mị không nói, cũng không đừng lên. Mị nhớ lại đời mình, Mị lại tưởng tượng như cô thì phải bỏ lửa, biểu A Phủ thì phải trói và dù có bỏ A Phủ thì là Mị không có. Mị phải hỏi liệu phải trói thay vào đây, Mị phải chết trên cát cọc ấy. Nghĩ thế, trong tình cảnh này, làm sao Mị cũng không thấy sợ…
(Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr.13-14)
Anh/Chị hãy phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật Mị trong đoạn trích trên; từ đó, nhận xét tư tưởng nhân đạo của nhà văn Tô Hoài được thể hiện trong đoạn trích.
HẾT Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án tham khảo đề thi tốt nghiệp THPT 2025 môn Ngữ Văn
Dưới đây là đáp án được tạo bởi AI các bạn có thể tham khảo
Đề thi TN THPT Ngữ Văn 2025 số 1 – Chương trình mới:
PHẦN I: ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1. Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản.
- Ngôi kể: Văn bản sử dụng ngôi kể thứ ba.
- Dấu hiệu: Người kể chuyện giấu mình, không xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm (không xưng “tôi”). Người kể gọi tên các nhân vật (Lễ, Sơn) và có khả năng bao quát toàn bộ câu chuyện, thậm chí đi sâu vào những “ý nghĩ sâu kín nhất của Lễ”.
- Tác dụng: Giúp câu chuyện được kể một cách khách quan, toàn diện. Người đọc có thể theo dõi đồng thời hành động của nhiều nhân vật và thấu hiểu được thế giới nội tâm sâu sắc của họ, từ đó làm nổi bật tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng.
Câu 2. Trong văn bản, quê hương của Lễ và quê hương của Sơn gắn với hai dòng sông nào?
Dựa vào các chi tiết trong văn bản và phần tóm tắt bối cảnh:
- Quê hương của Lễ ở Nghệ An, gắn liền với hình ảnh “cầu Sông” và con sông lớn nhất của vùng đất này là sông Lam (chi tiết “đáp bằng pháo sa súng Lam vẫn vang trời”).
- Quê hương của Sơn là Hà Nội. Khi Lễ đến Hà Nội, anh cảm nhận được “phù sa sông Hồng truyền sang người” một cảm giác mát lạnh.
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn sau: Đại đội pháo của họ như một gốc cây đã lớn, nhựa cây từ đây tỏa ra thành hai nhánh.
Biện pháp tu từ so sánh trong câu văn trên có tác dụng sâu sắc cả về mặt nghệ thuật và nội dung:
- Về nghệ thuật: Phép so sánh làm cho hình ảnh đại đội pháo binh trở nên cụ thể, sinh động và giàu sức gợi. Thay vì là một đơn vị quân đội khô khan, đại đội hiện lên như một sinh thể sống có sức mạnh nội tại.
- Về nội dung:
- Hình ảnh “một gốc cây đã lớn” gợi lên sự vững chãi, kiên cường, đoàn kết và đầy bản lĩnh của đơn vị sau thời gian dài gắn bó, chiến đấu. “Gốc cây” cũng là biểu tượng cho cội nguồn sức mạnh, cho truyền thống tốt đẹp.
- Hình ảnh “nhựa cây từ đây tỏa ra thành hai nhánh” thể hiện sự trưởng thành và phát triển. Việc chia tách đơn vị không phải là sự tan rã, mà là sự lan tỏa sức mạnh, sự tiếp nối lý tưởng. “Nhựa cây” (sự sống, tinh thần chiến đấu) từ “gốc” chung sẽ tiếp tục nuôi dưỡng hai “nhánh” mới, để họ vươn xa, thực hiện những nhiệm vụ mới. => Phép so sánh vừa khẳng định sức mạnh đoàn kết của đơn vị, vừa cho thấy sự trưởng thành và tinh thần sẵn sàng lên đường nhận nhiệm vụ mới của những người lính.
Câu 4. Nêu vai trò của chi tiết Họ chia nhau tấm giát nằm, vài tấm áo sặc mùi thuốc đạn và chia nhau bầu trời Tổ quốc trên đầu trong việc thể hiện nội dung văn bản.
Chi tiết này có vai trò đặc biệt quan trọng, là điểm hội tụ nhiều tầng ý nghĩa:
- Phản ánh sự gian khổ, thiếu thốn của cuộc chiến: Những người lính phải chia nhau từng “tấm giát nằm”, “vài tấm áo”, cho thấy hoàn cảnh vật chất vô cùng khắc nghiệt.
- Làm nổi bật tình đồng chí, đồng đội keo sơn, gắn bó: Trong hoàn cảnh đó, họ san sẻ cho nhau mọi thứ, từ những vật chất nhỏ bé nhất đến lý tưởng lớn lao nhất. Tình cảm của họ là sự đồng cam cộng khổ chân thành.
- Nâng tầm tình bạn thành tình đồng chí thiêng liêng: Việc đặt hành động “chia nhau tấm giát nằm” cạnh “chia nhau bầu trời Tổ quốc” đã tạo ra một sự đối sánh đầy ý nghĩa. Nó cho thấy tình cảm của những người lính không chỉ là sự sẻ chia vật chất đời thường, mà còn là sự sẻ chia chung một lý tưởng, chung một trách nhiệm bảo vệ non sông. Tình cảm cá nhân đã hòa quyện và được nâng lên tầm vóc của trách nhiệm dân tộc.
Câu 5. Hai ngữ liệu sau đây có sự tương đồng nào về ý nghĩa?
Ngữ liệu 1 (Nguyễn Minh Châu): Họ đi qua […] để lại phía sau […] Những vùng trời họ đã để lại một nửa tấm hồn ở đấy. Ngữ liệu 2 (Chế Lan Viên): Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở / Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn!
Sự tương đồng về ý nghĩa: Cả hai ngữ liệu đều thể hiện một tư tưởng chung: mảnh đất, không gian mà con người đã gắn bó sẽ không còn là một địa danh vật lý đơn thuần, mà nó đã trở thành một phần tâm hồn, một phần ký ức không thể tách rời của con người.
- Ở ngữ liệu 1, những người lính để lại “một nửa tấm hồn” ở những vùng đất họ đã đi qua, bởi nơi đó ghi dấu những kỷ niệm, những trận chiến, tình đồng đội.
- Ở ngữ liệu 2, Chế Lan Viên khẳng định sự chuyển hóa kỳ diệu của mảnh đất. Khi ta đến, nó chỉ là “nơi đất ở”, nhưng khi ta đi, những kỷ niệm, tình cảm, sự cống hiến đã làm cho mảnh đất ấy “hóa tâm hồn”. => Điểm chung cốt lõi là sự gắn kết máu thịt giữa con người và mảnh đất, biến không gian vật lý thành không gian tinh thần, thành tâm hồn.
PHẦN II: VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích tình cảm của Lễ dành cho Sơn.
Gợi ý dàn ý:
- Mở đoạn: Giới thiệu tình cảm của Lễ dành cho Sơn là tình đồng chí, đồng đội sâu sắc, được thử thách và vun đắp trong khói lửa chiến tranh.
- Thân đoạn:
- Phân tích sự chuyển biến trong tình cảm: từ “không có thiện cảm” ban đầu với một “công tử Hà Nội” đã trở thành “đôi bạn thân”.
- Phân tích những biểu hiện của tình cảm:
- Sự thấu hiểu, tin tưởng tuyệt đối: “Tớ rất tin cậu!”.
- Sự quan tâm, lo lắng và trách nhiệm: Lời hứa sẽ “bảo vệ cái đập nước và vùng trời quê hương của cậu bằng mọi giá”.
- Sự trân trọng, xem Sơn là người thân thiết nhất: “ảnh đá coi Sơn như một đồng chí thân thiết nhất trong đội lính”.
- Kết đoạn: Khẳng định tình cảm ấy đã vượt lên trên tình bạn thông thường, trở thành biểu tượng cho sự đoàn kết của những người lính từ mọi miền quê, cùng chung lý tưởng bảo vệ Tổ quốc.
Đoạn văn tham khảo:
Trong khói lửa của cuộc chiến tranh, tình cảm Lễ dành cho Sơn đã vượt lên trên những ấn tượng ban đầu để kết tinh thành tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng, sâu nặng. Từ chỗ “không có thiện cảm” với một chàng trai Hà Nội có vẻ trắng trẻo, công tử, Lễ đã dần thấu hiểu và gắn bó với Sơn sau ba năm chung sống, chiến đấu, để rồi họ trở thành “đôi bạn thân”. Tình cảm ấy được thể hiện qua niềm tin tưởng tuyệt đối vào người bạn, vào người đồng đội (“Tớ rất tin cậu!”). Nó còn là trách nhiệm và sự quan tâm chân thành khi Lễ hứa sẽ bảo vệ “vùng trời quê hương của cậu bằng mọi giá”. Hơn cả một lời hứa, đó là sự phó thác, là sự hòa quyện vận mệnh của mình với vận mệnh của bạn. Sâu thẳm trong tâm hồn, Lễ đã coi Sơn là “một đồng chí thân thiết nhất”, một người anh em thực sự. Tình cảm của Lễ dành cho Sơn không chỉ là tình bạn đơn thuần mà đã trở thành biểu tượng cao đẹp cho sự đoàn kết của những người con từ mọi miền đất nước, cùng chung một lý tưởng, một “bầu trời Tổ quốc” để bảo vệ.
Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) với chủ đề: vùng trời quê hương nào cũng là bầu trời Tổ quốc.
Dàn ý chi tiết:
- Mở bài: Dẫn dắt vào vấn đề từ tình yêu quê hương, một trong những tình cảm tự nhiên và sâu sắc nhất của con người. Giới thiệu nhận định “vùng trời quê hương nào cũng là bầu trời Tổ quốc”, khẳng định đây là một tư tưởng đúng đắn, thể hiện mối quan hệ thống nhất giữa cái riêng và cái chung.
- Thân bài:
- Giải thích:
- “Vùng trời quê hương”: Là không gian cụ thể, gần gũi (làng xóm, con phố, dòng sông…) gắn với cuộc đời, ký ức của mỗi cá nhân. Đó là cội nguồn, là tình yêu mang tính riêng tư.
- “Bầu trời Tổ quốc”: Là không gian lớn lao, thiêng liêng, là chủ quyền quốc gia, là vận mệnh chung của cả dân tộc.
- Ý nghĩa câu nói: Khẳng định tình yêu quê hương là cơ sở, là biểu hiện cụ thể của lòng yêu nước. Mỗi miền quê là một phần máu thịt của Tổ quốc. Bảo vệ, xây dựng quê hương chính là đang góp phần bảo vệ, xây dựng Tổ quốc.
- Phân tích, chứng minh:
- Từ văn bản Những vùng trời khác nhau: Lễ (Nghệ An) và Sơn (Hà Nội) đến từ hai “vùng trời” khác nhau nhưng cùng chung một nhiệm vụ. Họ hoán đổi trách nhiệm, bảo vệ quê hương của nhau bởi họ hiểu rằng, bảo vệ vùng trời của bạn cũng chính là bảo vệ bầu trời chung của Tổ quốc. Tình đồng đội của họ đã xóa nhòa ranh giới địa lý.
- Từ thực tiễn “bối cảnh đất nước đang có nhiều thay đổi lớn lao”:
- Trong công cuộc bảo vệ chủ quyền: Người ngư dân ở Quảng Ngãi, người lính ở Trường Sa đang ngày đêm bám biển, bám đảo. “Vùng trời quê hương” của họ lúc này là biển cả mênh mông, và hành động đó chính là để giữ vững “bầu trời Tổ quốc” thiêng liêng.
- Trong công cuộc phát triển kinh tế và hội nhập (sắc bén, thời sự): Chủ trương sáp nhập các đơn vị hành chính là một ví dụ điển hình. Các địa phương chấp nhận thay đổi ranh giới, tên gọi lịch sử để tạo ra một sức mạnh mới, một bộ máy tinh gọn, hiệu quả hơn, tất cả vì sự phát triển chung của quốc gia. Những “vùng trời quê hương” được sắp xếp lại để “bầu trời Tổ quốc” thêm vững mạnh.
- Trong đời sống văn hóa – xã hội: Các y bác sĩ, giáo viên rời thành phố về công tác ở vùng sâu, vùng xa. Họ đang góp phần làm cho “vùng trời” khó khăn ấy tươi sáng hơn, cũng chính là làm đẹp thêm cho “bầu trời Tổ quốc” chung.
- Bàn luận, mở rộng:
- Phê phán tư tưởng cục bộ, địa phương, chỉ biết vun vén cho quê hương mình mà làm hại đến lợi ích quốc gia.
- Phê phán lòng yêu nước sáo rỗng, chỉ nói lời hoa mỹ mà không có hành động thiết thực cho cộng đồng nơi mình sinh sống.
- Khẳng định: Tình yêu quê hương phải được đặt trong tình yêu Tổ quốc, và lòng yêu nước phải bắt đầu từ những hành động cụ thể nhất.
- Giải thích:
- Kết bài: Khẳng định lại chân lý của nhận định. Liên hệ với trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay: ra sức học tập, rèn luyện để có thể cống hiến, xây dựng cho quê hương mình ngày càng giàu đẹp, văn minh, cũng chính là góp phần làm cho “bầu trời Tổ quốc” Việt Nam mãi trong xanh và hòa bình.
Đáp án tham khảo bên Học Mãi





Đề thi TN THPT Ngữ Văn 2025 số 2 – Chương trình cũ:
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.
- Gợi ý: Để xác định thể thơ, ta thường dựa vào số tiếng trong mỗi dòng thơ, cách gieo vần và nhịp điệu.
- Đọc kĩ văn bản, đếm số tiếng ở mỗi dòng: các dòng thơ có số tiếng không cố định (có dòng 6 tiếng, có dòng 7 tiếng, có dòng 8 tiếng…).
- Vần được gieo một cách tự do, không theo quy tắc cố định (ví dụ: “khác” – không vần với “bề bộn”, “với” – không vần với “tìm kiếm”).
- Nhịp thơ cũng khá tự do, linh hoạt.
- Trả lời: Thể thơ tự do.
Câu 2. Theo văn bản, con người mệt mỏi tìm kiếm điều gì?
- Gợi ý: Tập trung vào khổ thơ đầu tiên, đặc biệt là câu thơ cuối cùng của khổ thơ đó.
- Trả lời: Theo văn bản, con người mệt mỏi tìm kiếm “cái mới” và những điều “xa mệt mỏi”.
Câu 3. Nêu tác dụng của phép điệp trong những dòng thơ sau: Sao không đào sâu qua những quản đời Sao không sâu lại lớn những chán chán Những cái tái tâm, những gì chai sạn Hân trong từng nếp nghĩ bạn và tôi
- Gợi ý: Phép điệp là sự lặp lại một từ, cụm từ hoặc cấu trúc ngữ pháp. Tác dụng của nó thường là nhấn mạnh, tạo nhịp điệu, và gây ấn tượng.
- Nhận diện từ/cụm từ được điệp: “Sao không”, “những”.
- Nội dung được nhấn mạnh: lời kêu gọi, lời chất vấn về cách sống chưa sâu sắc, sự lặp lại, nhàm chán.
- Trả lời: Phép điệp “Sao không” ở đầu hai dòng thơ có tác dụng:
- Nhấn mạnh: lời chất vấn, lời kêu gọi mạnh mẽ về việc con người cần thay đổi cách sống, cần đi sâu vào bản chất của vấn đề, của cuộc đời thay vì chỉ sống hời hợt, lặp lại những điều vô vị.
- Tạo nhịp điệu: cho đoạn thơ, khiến giọng điệu trở nên day dứt, trăn trở.
- Gợi suy ngẫm: về sự lặp lại, nhàm chán trong “những quản đời”, “những chán chán”, “những cái tái tâm, những gì chai sạn” mà con người đang mắc phải.
Câu 4. Những dòng thơ Chúng ta bỏ qua những vui buồn thường gặp/ Tìm những cái vô ảnh vô hồn trong vòng mũi khơi gợi cho anh/chị bài học gì về lẽ sống?
- Gợi ý: Phân tích ý nghĩa của “bỏ qua những vui buồn thường gặp” và “tìm những cái vô ảnh vô hồn”.
- “Vui buồn thường gặp”: những cảm xúc chân thật, gần gũi, đời thường của con người.
- “Vô ảnh vô hồn”: những thứ trừu tượng, không có giá trị thực chất, không mang lại ý nghĩa sâu sắc.
- Trả lời: Những dòng thơ này gợi cho tôi bài học về lẽ sống:
- Hãy trân trọng những giá trị giản dị, chân thực của cuộc sống: Thay vì chạy theo những điều phù phiếm, cao siêu, chúng ta cần biết quý trọng những niềm vui, nỗi buồn rất đỗi đời thường, bởi chúng chính là một phần không thể thiếu làm nên ý nghĩa cuộc sống.
- Tránh xa sự vô cảm, hời hợt: Con người cần sống với sự nhạy cảm, biết rung động trước những điều nhỏ bé, không nên để mình trở nên vô cảm, chạy theo những giá trị ảo, không có thực chất (“vô ảnh vô hồn”).
- Sống chân thành và sâu sắc: Bài học còn nhắc nhở chúng ta cần sống thật với cảm xúc của mình, không nên che giấu hay bỏ qua những điều làm nên bản ngã, đồng thời cần tìm kiếm những giá trị tinh thần, chiều sâu trong tư duy và cảm xúc thay vì tìm kiếm những thứ xa vời, vô nghĩa.
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về sự cần thiết phải làm mới chính mình của người trẻ trong bối cảnh hiện nay.
- Yêu cầu: Viết đoạn văn nghị luận xã hội, trình bày suy nghĩ về “sự cần thiết phải làm mới chính mình của người trẻ”.
- Dàn ý gợi ý:
- Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề “làm mới chính mình” của người trẻ và sự cần thiết của nó trong bối cảnh hiện nay (thể hiện sự liên hệ với đoạn trích “Nếp nghĩ” – ý nghĩa của việc sống sâu sắc, không nhàm chán).
- Thân đoạn:
- Giải thích: “Làm mới chính mình” là gì? (Là sự tự thay đổi, hoàn thiện bản thân về tư duy, kiến thức, kĩ năng, lối sống để phù hợp với sự phát triển của xã hội).
- Biểu hiện của sự cần thiết:
- Trong bối cảnh hiện nay: Xã hội phát triển nhanh chóng, biến đổi không ngừng (công nghệ, hội nhập…). Nếu không làm mới, người trẻ sẽ bị tụt hậu, khó thích nghi.
- Đối với bản thân: Giúp người trẻ tự tin hơn, năng động hơn, phát huy tối đa tiềm năng, khám phá những giá trị mới của bản thân.
- Đối với cộng đồng, xã hội: Những người trẻ biết làm mới mình sẽ đóng góp tích cực vào sự phát triển chung, tạo ra những giá trị mới mẻ.
- Liên hệ với “Nếp nghĩ”: “Sao không đào sâu…”, “bỏ qua những vui buồn thường gặp” -> nhắc nhở người trẻ cần sống có chiều sâu, không nên sống hời hợt, vô cảm, mà cần thay đổi để vươn tới những giá trị tốt đẹp hơn.
- Cách thức “làm mới”: Học hỏi, rèn luyện kỹ năng, mở rộng tư duy, dám vượt qua vùng an toàn, lắng nghe và tiếp thu cái mới, tự phản tỉnh, đổi mới lối sống…
- Kết đoạn: Khẳng định lại ý nghĩa và tầm quan trọng của việc làm mới bản thân đối với người trẻ để thành công và hạnh phúc trong cuộc sống hiện đại.
- Lưu ý: Viết khoảng 200 chữ, tránh lan man, tập trung vào luận điểm chính
Câu 2. (5,0 điểm)
1. Mở bài:
- Giới thiệu khái quát về nhà văn Tô Hoài và tác phẩm Vợ chồng A Phủ.
- Nêu vấn đề cần nghị luận: diễn biến tâm trạng nhân vật Mị trong đoạn trích và tư tưởng nhân đạo của nhà văn.
- Đoạn trích là một trong những đoạn đặc sắc, thể hiện rõ quá trình hồi sinh của Mị.
2. Thân bài:
a. Khái quát về bối cảnh và tình cảnh của Mị trước đoạn trích:
- Mị là một cô gái Mèo trẻ đẹp, tài hoa (thổi sáo giỏi), yêu đời, có khát vọng sống tự do.
- Vì món nợ truyền kiếp của cha mẹ, Mị bị A Sử (con trai thống lí Pá Tra) bắt về làm con dâu gạt nợ, bị áp bức, bóc lột dã man, biến thành người vợ không công, sống “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”, mất hết ý niệm về thời gian và không gian. Tinh thần bị tê liệt.
b. Phân tích diễn biến tâm trạng của Mị trong đoạn trích:
- Giai đoạn 1: Sống vô cảm, quen với sự đau khổ, chai sạn (tê liệt về cảm xúc):
- Hình ảnh Mị ngồi sưởi lửa “một lúc thật lâu”, nhưng vẫn chỉ “biết còn ở với ngọn lửa”. Sự sống của Mị chỉ còn là bản năng sinh tồn tối thiểu.
- Mị chứng kiến cảnh A Phủ bị trói: “Mị thấy A Phủ trông trông như một con chó sắp chết đói. Mấy ngày như thế, Mị vẫn không nhận thấy đói, hơn thế nữa. A Phủ là cái xác chết đứng dậy, càng thế thôi.” -> Sự vô cảm đến ghê người, cho thấy Mị đã hoàn toàn chai sạn, không còn cảm nhận được nỗi đau của người khác, thậm chí nỗi đau của chính mình. Sự sống của Mị chỉ là sự tồn tại vật vờ.
- Bị A Sử đánh đập “ngã ngửa xuống cửa bếp” nhưng “đêm sau Mị vẫn ra sưởi như đêm trước” -> Mị đã quen với bạo lực, nỗi đau thể xác không còn làm Mị phản ứng.
- Giai đoạn 2: Sự hồi sinh của ý thức và tình thương (quá trình cựa mình):
- Khoảnh khắc nhìn thấy A Phủ: “Lửa bếp bùng sáng lên. Mị lại mất trong sang, thấy hai người A Phủ cũng vừa mới, mắt đóng nước mắt lắp lánh bộ xương hai hồm mà đã xám đen lại.” -> Ánh sáng của bếp lửa (tượng trưng cho sự sống, hơi ấm tình người) đã “soi” vào tâm hồn Mị. Hình ảnh A Phủ “mắt đóng nước mắt lắp lánh” gợi sự đồng cảm.
- Mị nhớ lại cảnh mình bị trói: “Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia.” -> Đây là một bước ngoặt quan trọng. Sự đồng cảm với A Phủ đã đánh thức kí ức đau khổ của chính Mị. Nỗi đau của người khác đã khơi dậy nỗi đau của bản thân.
- Tình thương trỗi dậy: “Nhiều lần khóc nước mắt xuôi xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được!” -> Những giọt nước mắt không phải cho bản thân Mị, mà là cho A Phủ, cho số phận khổ đau chung của những người bị áp bức. Đây là dấu hiệu của sự hồi sinh tâm hồn.
- Sự đồng cảm, thấu hiểu đến tột cùng: “Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết đứng thế này, nó bắt trói trên chiến người dân ba ngày trước cũng ở cái nhà này.” -> Mị nhận ra sự tàn bạo, bất công của bọn thống lí, nhận ra A Phủ cũng là nạn nhân giống mình, thậm chí Mị còn liên tưởng đến hình ảnh người Việt bị giặc trói, cho thấy ý thức cộng đồng, dân tộc đã trỗi dậy.
- Ánh sáng của ý chí phản kháng: “Phải chết thế này thì đàn bà, nó đã bắt trói mình mà nó còn bắt trói với bọn Việt đây ngày rủ xương ở đây thôi… Người kia việc gì mà phải chết thế… A Phủ… Mị phải phát nghĩ như vậy.” -> Mị bắt đầu có ý nghĩ cứu A Phủ. Từ sự thương cảm, Mị đã chuyển sang hành động, vượt qua nỗi sợ hãi cái chết.
- Giai đoạn 3: Hành động giải thoát và ý chí sống mãnh liệt:
- “Mị không nói, cũng không đừng lên. Mị nhớ lại đời mình, Mị lại tưởng tượng như cô thì phải bỏ lửa, biểu A Phủ thì phải trói và dù có bỏ A Phủ thì là Mị không có.” -> Mị đã có sự đấu tranh nội tâm, giữa việc bỏ mặc (sợ hãi) và cứu (tình thương).
- “Mị phải hỏi liệu phải trói thay vào đây, Mị phải chết trên cát cọc ấy.” -> Mị nhận ra sự lựa chọn giữa cái chết và sự sống, giữa cái “có” và cái “không”. Điều này thôi thúc Mị hành động.
- “Nghĩ thế, trong tình cảnh này, làm sao Mị cũng không thấy sợ…” -> Đây là đỉnh điểm của sự hồi sinh. Nỗi sợ hãi cái chết, nỗi sợ hãi sự trừng phạt đã bị tình thương và khao khát tự do lấn át. Mị đã vượt lên bản năng tự vệ để hành động vì người khác. Hành động cắt dây trói cho A Phủ là biểu hiện cao nhất của sự trỗi dậy mạnh mẽ.
c. Nhận xét tư tưởng nhân đạo của nhà văn Tô Hoài:
- Cảm thông sâu sắc với số phận đau khổ của người lao động miền núi: Tô Hoài đã thấu hiểu và xót xa trước cuộc sống bị áp bức, bóc lột đến tận cùng, khiến con người mất đi cả ý thức, biến thành nô lệ cả về thể xác lẫn tinh thần như Mị và A Phủ.
- Tố cáo mạnh mẽ tội ác của giai cấp thống trị: Qua hình ảnh bọn thống lí Pá Tra, A Sử, nhà văn đã lên án gay gắt sự tàn bạo, vô nhân tính của cường quyền, đã vùi dập và chà đạp lên quyền sống, quyền làm người của đồng bào Mông.
- Ca ngợi vẻ đẹp tiềm ẩn và sức sống mãnh liệt của con người: Dù bị vùi dập đến tận cùng, Tô Hoài vẫn tin tưởng và ngợi ca khả năng hồi sinh, trỗi dậy của Mị. Từ một con người vô cảm, Mị đã vươn lên giành lại sự sống, thể hiện khát vọng tự do, tình thương và ý chí phản kháng. Đây là giá trị cốt lõi của chủ nghĩa nhân đạo, tin vào bản chất tốt đẹp của con người.
- Mở ra con đường giải thoát cho nhân vật: Việc Mị cắt dây trói cứu A Phủ và cùng nhau chạy trốn không chỉ là hành động cá nhân mà còn mang ý nghĩa tượng trưng cho con đường giải thoát, tự giải phóng mình khỏi xiềng xích của cường quyền, hứa hẹn một tương lai tươi sáng hơn.
3. Kết bài:
- Khẳng định lại giá trị của đoạn trích và tài năng miêu tả tâm lí nhân vật của Tô Hoài.
- Tổng kết lại ý nghĩa của diễn biến tâm trạng Mị và giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.
- Đoạn trích là minh chứng cho giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo cao cả của Vợ chồng A Phủ, góp phần khẳng định vị trí của Tô Hoài trong văn học Việt Nam hiện đại.

